Mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp Tư vấn luật qua tổng đài
a) Mức đóng bảo hiểm xã hội
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 Luật Bảo hiểm xã hội 2006, hằng tháng người lao động (NLĐ) đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%. Như vậy, tính đến năm 2015 mức đóng bảo hiểm xã hội (vào quỹ hưu trí và tử tuất) của NLĐ là 8% mức tiền lương, tiền công.
Khoản 1 Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định: hằng tháng, người sử dụng lao động (NSDLĐ) đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của NLĐ như sau:
– 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó NSDLĐ giữ lại 2% để trả kịp thời cho NLĐ đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau và thai sản và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;
– 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
– 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.
Như vậy, tính đến năm 2015 tổng mức đóng bảo hiểm xã hội của NSDLĐ vào các quỹ ốm đau và thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất là 18% trên mức tiền lương, tiền công của NLĐ và NSDLĐ giữ lại 2%.
b) Mức đóng bảo hiểm y tế
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 Luật bảo hiểm y tế 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), mức đóng hằng tháng tối đa bằng 6% mức tiền lương, tiền công tháng của NLĐ, trong đó NSDLĐ đóng 2/3 và NLĐ đóng 1/3. Như vậy, mức đóng bảo hiểm y tế của NLĐ tối đa bằng 2% mức tiền lương, tiền công tháng của NLĐ, mức đóng của NSDLĐ tối đa bằng 4% mức tiền lương, tiền công tháng của NLĐ.
c) Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp
Căn cứ quy định tại Điều 57 Luật việc làm, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với NLĐ và NSDLĐ như sau:
NLĐ đóng 1% tiền lương tháng;
NSDLĐ đóng 1% quỹ tiền lương tháng của NLĐ đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Tổng kết
Hàng tháng, NSDLĐ phải đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với tỷ lệ đóng là 34% trên mức tiền lương, tiền công tháng của NLĐ. Trong đó, NSDLĐ trích 11% trong mức tiền lương, tiền công của NLĐ và 23% còn lại lấy từ chi phí của NSDLĐ.

NSDLĐ được giữ lại 2% để chi trả kịp thời chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ và hằng quý hoặc hằng tháng phải quyết toán với cơ quan Bảo hiểm xã hội.
Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp
Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội 2006, tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với NLĐ đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động. Trường hợp mức tiền lương, tiền công cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.
Theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 5 Điều 14 Luật Bảo hiểm y tế 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), căn cứ đóng bảo hiểm y tế là tiền lương, tiền công tháng được ghi trong hợp đồng lao động (đối với NLĐ hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của NSDLĐ). Mức tiền công, tiền lương tối đa để tính mức đóng bảo hiểm y tế là 20 lần mức lương tối thiểu.
Điều 58 Luật việc làm 2013 quy định: NLĐ đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động).Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Nguồn: Tư vấn luật qua tổng đài
Có 0 nhận xét Đăng nhận xét