Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, đất đai là một tài sản vô cùng quý giá, tranh chấp về quyền sử dụng đất đang ngày càng gia tăng và phức tạp. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp này thuộc về Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi xin trình bày về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Tư vấn luật qua tổng đài
Khái niệm tranh chấp quyền sử dụng đất và thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Do vậy, tranh chấp về quyền sử dụng đất có thể hiểu là tranh chấp giữa các chủ thể (thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật) về quyền sử dụng đối với một diện tích đất nhất định mà họ không thể tự giải quyết được với nhau và đã có đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các tranh chấp đó theo thủ tục tố tụng dân sự.
Quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự
a) Quy định về thẩm quyền của Tòa án theo loại việc về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS): Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Khoản 1 Điều 203Luật đất đai 2013 quy định “tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”. Như vậy, các tranh chấp quyền sử dụng đất sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, các tranh chấp quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản gắn liền với đất.
Thứ hai, các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013, và được hướng dẫn tại Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Thứ ba, các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013 và đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp đất đai theo hình thức khởi kiện tại tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
b) Quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 33 BLTTDS: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 33 và Điểm c Khoản 1 Điều 34 LTTDS thì những tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Như vậy, về nguyên tắc, Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hầu hết các tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, trong một số tường hợp mà vụ việc có tính chất phức tạp đòi hỏi có những điều kiện đặc biệt về chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tòa án, hay để đảm bảo tính khách quan khi giải quyết vụ việc mà ở Tòa án cấp huyện không thực hiện được, hoặc vụ việc đòi hỏi những điều kiện về phương tiện kỹ thuật, về ủy thác tư pháp với nước ngoài sẽ do tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
c) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLDS 2005 bất động sản bao gồm:
“a, Đất đai;
b, Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;
c, Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d, các tài sản khác do pháp luật quy định”
Từ quy định trên có thể khẳng định tranh chấp quyền sử dụng đất là tranh chấp về bất động sản.
Căn cứ quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 35 BLTTDS: “Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản” và quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành nột số quy định trong phần thứ nhất “ Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự: “Đối với tranh chấp về bất động sản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 của BLTTDS thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết”. Vậy, tranh chấp quyền sử dụng đất do Tòa án nơi có đất đang bị tranh chấp về quyền sử dụng đất đó giải quyết.
Tranh chấp quyền sử dụng đất do Tòa án nơi có đất đang bị tranh chấp về quyền sử dụng đất đó giải quyết; quy định này của pháp luật là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ: đất đai là tài sản cố định không thể dịch chuyển được, và thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan tới bất động sản sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính quyền địa phương nơi có bất động sản đó lưu giữ. Do vậy, tòa án nơi có bất động sản sẽ là tòa án có điều kiện tốt nhất để tiến hành xác minh, xem xét tình trạng của bất động sản và thu thập các giấy tờ, tài liệu liên quan tới bất động sản, việc giải quyết tranh chấp vì thế sẽ thuận tiện và nhanh chóng hơn.
Có 0 nhận xét Đăng nhận xét