Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư vấn luật qua tổng đài điện thoại 19006210. Hiển thị tất cả bài đăng

Tìm hiểu về bất động sản

Tìm hiểu về bất động sản  "  Tư vấn luật qua tổng đài " 

Theo pháp luật và thực tiễn ở các nước, tài sản được chia thành hai loại là động sản và bất động sản (BĐS). Việc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ. 

bat-dong-san

Khái niệm bất động sản

Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định tại khoản 1 Điều 174 về BĐS như sau:

“1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:

a) Ðất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Các tài sản khác do pháp luật quy định”.

2. Đặc điểm của bất động sản

Tính cá biệt và khan hiếm:

Đặc điểm này của BĐS xuất phát từ tính cá biệt và tính khan hiếm của đất đai. Tính khan hiếm của đất đai là do diện tích bề mặt trái đất là có hạn. Tính khan hiếm cụ thể của đất đai là giới hạn về diện tích đất đai của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ… Chính vì tính khan hiếm, tính cố định và không di dời được của đất đai nên hàng hoá BĐS có tính cá biệt. Trong cùng một khu vực nhỏ kể cả hai BĐS cạnh nhau đều có những yếu tố không giống nhau. Trên thị trường BĐS khó tồn tại hai BĐS hoàn toàn giống nhau vì chúng có vị trí không gian khác nhau kể cả hai công trình cạnh nhau và cùng xây theo một thiết kế. Tư vấn luật qua tổng đài điện thoại

Tính bền lâu:

Do đất đai là tài sản do thiên nhiên ban tặng, một loại tài nguyên được xem như không thể bị huỷ hoại, trừ khi có thiên tai, xói lở, vùi lấp. Đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất sau khi xây dựng hoặc sau một thời gian sử dụng được cải tạo nâng cấp có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Vì vậy, tính bền lâu của BĐS là chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc và công trình xây dựng.

Tính chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau

BĐS chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một bất động sản này có thể bị tác động của bất động sản khác khác. Đặc biệt, trong trường hợp Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng sẽ làm tăng vẻ đẹp và nâng cáo giá trị sử dụng của BĐS trong khu vực đó. Trong thực tế, việc xây dựng BĐS này làm tôn thêm vẻ đẹp và sự hấp dẫn của BĐS khác là hiện tượng khá phổ biến.
Các tính chất khác

Tính thích ứng: Lợi ích của BĐS được sinh ra trong quá trình sử dụng. BĐS trong quá trình sử dụng có thể điều chỉnh công năng mà vẫn giữ được những nét đặc trưng của nó, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng trong việc thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác.

Tính phụ thuộc vào năng lực quản lý: Hàng hoá BĐS đòi hỏi khả năng và chi phí quản lý cao hơn so với các hàng hoá thông thường khác. Việc đầu tư xây dựng BĐS rất phức tạp, chi phí lớn, thời gian dài. Do đó, BĐS đòi hỏi cần có khả năng quản lý thích hợp và tương xứng.

Mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội: Hàng hoá BĐS chịu sự chi phối của các yếu tố này mạnh hơn các hàng hoá thông thường khác. Nhu cầu về BĐS của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia là rất khác nhau, phụ thuộc vào thị hiếu, tập quán của người dân sinh sống tại đó. Yếu tố tâm lý xã hội, thậm chí cả các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh… chi phối nhu cầu và hình thức BĐS.

3. Phân loại bất động sản

Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, BĐS có thể phân thành ba loại: BĐS có đầu tư xây dựng, BĐS đầu tư xây dựng và BĐS sản đặc biệt.

Bất động sản có đầu tư xây dựng gồm: BĐS nhà ở, BĐS nhà xưởng và công trình thương mại- dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ sở làm việc…Trong BĐS có đầu tư xây dựng thì nhóm BĐS nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai) là nhóm BĐS cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, tính chất phức tạp rất cao và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Nhóm này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như phát triển đô thị bền vững. Nhưng quan trọng hơn là nhóm BĐS này chiếm tuyệt đại đa số các giao dịch trên thị trường BĐS ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới.

Bất động sản không đầu tư xây dựng: BĐS thuộc loại này chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng…

Bất động sản đặc biệt là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang… Đặc điểm của loại BĐS này là khả năng tham gia thị trường rất thấp.

Việc phân chia BĐS theo 3 loại trên đây là rất cần thiết bảo đảm cho việc xây dựng cơ chế chính sách về phát triển và quản lý thị trường bất động sản phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của nước ta.
Các loại quyền liên quan đến BĐS

Quyền sở hữu: gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Quyền sử dụng: Là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định.

Quyền định đoạt: là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với tài sản.

Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ 3 quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao do pháp luật quy định. Quyền chiếm hữu: là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. Ở nước ta, chế độ sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân mà nhà nước là người đại diện cho quyền sở hữu đất đai, chỉ có Nhà nước mới có quyền giao hoặc cho thuê đất, trong hoạt động của thị trường giao hoặc cho thuê đất (thị trường sơ cấp), Nhà nước có vai trò độc quyền và định đoạt hoàn toàn.
Ý nghĩa của việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản

a) Là căn cứ để xác định thời hiệu xác lập quyền sở hữu

Theo Điều 255 BLDS, các trường hợp “chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, công khai, liên tục trong thời hạn 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản thì người chiếm giữ tài sản đó sẽ trở thành chủ sở hữu của tài sản đó”, trừ trường hợp liên quan đến tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

b) Là căn cứ để xác lập thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 25 BLTTDS: Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Khoản 1 Điều 203Luật đất đai 2013 quy định “tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”. 

Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề xác định tài sản nào là bất động sản và việc giải quyết tranh chấp về BĐS đôi khi còn nhiều vướng mắc. Việc phân định rõ tài sản nào là BĐS có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu và xác định thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản.

Tư vấn trường hợp bố mẹ tặng cho nhà đất cho các con

Tư vấn trường hợp bố mẹ tặng cho nhà đất cho các con "Tư vấn luật qua tổng đài"

Tóm tắt câu hỏi tư vấn:

Chào Luật sư, tôi có một vấn đề muốn hỏi Luật sư như sau: Tôi và vợ có tặng cho con gái và con rể một căn nhà khi 2 đứa kết hôn nhưng nay con rể tôi cờ bạc, rượu chè vợ chồng tôi muốn lấy lại căn nhà đó thì có hợp pháp hay không?

Luật sư tư vấn:

Cám ơn anh đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới công ty Luật ASEM Việt Nam, về câu hỏi của anh, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2005 : Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản; đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm đăng ký. Đối với trường hợp tài sản tặng cho là bất động sản, Điều 467 Bộ luật dân sự 2005 quy định :

“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.
Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.”

tu-van-tang-cho-nha

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 470 Bộ Luật dân sự 2005: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”

Và Điều 427 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Vì trong câu hỏi anh không nói rõ rằng khi tặng cho con gái căn nhà anh có làm thủ tục tặng cho theo quy định của pháp luật hay không, trong hợp đồng có nêu rõ việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho hay không và hợp đồng này còn trong thời hiệu khởi kiện hay không nên có thể phân ra các trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu khi vợ chồng anh chị lập hợp đồng tặng cho vợ chồng con gái mà không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho hoặc nếu có yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nhưng ở thời điểm anh chị muốn đòi lại mà đã hết thời hiệu khởi kiện vụ án Dân sự thi căn nhà này vẫn thuộc quyền sở hữu của vợ chồng con gái anh mà không thể lấy lại được.

Trường hợp 2: Trường hợp trong hợp đồng tặng cho anh chị có ghi rõ nghĩa vụ sau khi tặng cho và còn trong thời hiệu khởi kiện vụ án Dân sự thì anh chị có quyền đòi lại căn nhà nếu chứng minh được vợ chồng con gái không thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước và sau khi tặng cho.

Với những tư vấn như trên hy vọng sẽ giúp anh giải quyết được những vấn đề đang thắc mắc, nếu có thêm bất kỳ thắc mắc nào vui lòng gọi trực tiếp về đường dây nóng 1900.6210 hoặc gửi câu hỏi về email luatasem.qhkh@gmail.com.

Tư vấn về chia tài sản thừa kế khi cha mẹ chết không có di chúc

Tư vấn về chia tài sản thừa kế khi cha mẹ chết không có di chúc "Tư vấn luật qua tổng đài"

Tóm tắt câu hỏi tư vấn:

Chào Luật sư, tôi có một vấn đề muốn hỏi Luật sư như sau: Gia đình tôi có 5 anh chị em, mẹ tôi đã qua đời từ lâu và bố tôi cũng mới qua đời và không để lại di chúc. Tài sản bố mẹ để lại là một mảnh đất mà hiện nay gia đình tôi đang sống và chưa có sổ đỏ. Tuy nhiên 4 người em còn lại của tôi muốn bán mảnh đất này đi để lấy tiền chia cho mỗi người một phần nhưng gia đình tôi vẫn muốn tiếp tục sống ở mảnh đất này. Vậy có cách nào để tôi có thể tiếp tục sử dụng được đất này hay không?

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Công ty Luật ASEM Việt Nam, vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Mảnh đất bố mẹ bạn để lại được xác định là di sản thừa kế. Do bố mẹ bạn không để lại di chúc nên di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ bạn. Theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Như vậy, 4 người em của bạn có quyền được hưởng một phần di sản thừa kế của bố mẹ bạn là giá trị mảnh đất gia đình bạn đang sinh sống. 

tu-van-chia-tai-san-thua-ke-khi-cha-me-chet-khong-co-di-chuc

Và theo quy định tại Khoản 2 Điều 685 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định việc phân chia di sản theo pháp luật: “Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia”. Vì vậy, bạn và 4 người em có thể thỏa thuận phân chia di sản, trường hợp gia đình bạn muốn tiếp tục sử dụng và đăng ký quyền sở hữu đối với mảnh đất bố mẹ bạn để lại thì phải thỏa thuận việc bạn nhận thừa kế bằng hiện vật và chia tiền mặt tương đương với mỗi phần cho 4 người còn lại. Tất cả các đồng thừa kế cùng ký nhận và thỏa thuận về phần di sản phân chia cho từng người. Ở đây, phải có sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế. Nếu không thỏa thuận được thì có thể khởi kiện chia thừa kế tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết.

Bạn lưu ý khi thỏa thuận phân chia di sản phải lập thành văn bản và công chứng; văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản (Khoản 1 và 4 Điều 57 Luật Công chứng năm 2014).

Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Theo đó, nếu bố bạn đã chết từ 10 năm trở lên, nay 4 người em của bạn yêu cầu chia thừa kế thì đã hết thời hạn khởi kiện; tức là 4 người em của bạn không có quyền khởi kiện chia di sản thừa kế nữa. 

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7: 1900.6210 để được giải đáp.